Sunday, December 31, 2000

3 loại rượu thuốc bổ dương

Tuy nhiên, cách làm và sử dụng các loại rượu này nên tuân thủ nguyên tắc “tam nhân chế nghi” của đông dược - nghĩa là phải tùy lúc, tùy nơi và tùy người mà sử dụng để đạt được hiệu quả cao nhất và dự phòng được những tác dụng không mong muốn.

Xin giới thiệu 3 loại rượu thuốc đơn giản sau đây:

Rượu nhung hươu: nhung hươu 30g, kỷ tử 30g, rượu trắng 1.000ml. Nhung hươu thái vụn đem ngâm với rượu trong bình kín, sau chừng 7 - 10 ngày là có thể dùng được. Ngày uống 2 lần, mỗi lần từ 10 - 20ml, trước khi sinh hoạt uống 20ml. Công dụng: tráng dương tư âm, dùng cho người mắc chứng bất lực, khó thụ thai do chất lượng và số lượng tinh trùng suy giảm, giảm sút ham muốn và khoái cảm tình dục.

Cây tiên mao ôn bổ tỳ thận, cường gân cốt.

Cây tiên mao ôn bổ tỳ thận, cường gân cốt.

Theo quan niệm của y học cổ truyền, phần lớn các rối loạn sinh lý nêu trên đều thuộc thể loại dương hư biểu hiện bằng các triệu chứng như mệt mỏi, sắc mặt nhợt nhạt, dễ đổ mồ hôi, tay chân lạnh, sợ lạnh, tinh dịch lạnh lẽo, lưng đau gối mỏi, hay vã mồ hôi lạnh khi sinh hoạt tình dục... Nhung hươu vị ngọt mặn, tính ấm nóng, có công năng đại bổ nguyên dương, sinh tinh cường cân nên có đủ khả năng giải quyết các chứng trạng này. Kỷ tử vị ngọt, tính mát, có công dụng dưỡng âm nhuận táo, bổ can ích thận, dùng phối hợp nhằm mục đích tăng cường công năng bổ dưỡng và điều hòa tính nhiệt táo của nhung hươu, vừa bổ dương lại vừa dưỡng âm.

Rượu tiên mao: tiên mao 100g, rượu trắng 2.000ml. Tiên mao thái vụn, đựng vào túi vải rồi đem ngâm rượu, sau 10 ngày có thể dùng được. Nếu chế tiên mao theo cách cửu chưng cửu sái (chín lần đồ và phơi) thì tốt nhất. Ngày uống 2 lần, mỗi lần từ 10 - 20ml, trước khi sinh hoạt uống 20ml. Công dụng: ôn bổ tỳ thận, cường gân cốt, trừ hàn thấp, dùng cho người bị liệt dương, tinh lạnh, tiểu đêm nhiều lần, lưng đau, gối mỏi, suy giảm khả năng tình dục.

Đây là loại bổ dương dược tửu được ghi trong y thư cổ Bản thảo cương mục. Theo dược học cổ truyền, tiên mao vị cay hơi đắng, tính ấm, có công dụng ôn thận dương, cường gân cốt, chuyên dùng để trị chứng dương nuy tinh lãnh (liệt dương, tinh dịch lạnh lẽo). Sách Bản thảo cương mục viết: “Tiên mao, tính nhiệt. Bổ tam tiêu, mệnh môn chi dược dã. Trị dương nhược tinh hàn” (tiên mao tính lạnh là thuốc bổ tam tiêu và mệnh môn, trị liệt dương tinh lạnh); sách Bản thảo cầu chân viết: “Tiên mao, cứ thư giai tải công chuyên bổ hỏa, trợ dương noãn tinh, phàm hạ nguyên hư lãnh, dương suy tinh lãnh phục chi hữu hiệu” (tiên mao theo sách vở thì chuyên dùng bổ hỏa, trợ dương, làm ấm tinh; phàm các chứng hư lạnh phần dưới, liệt dương tinh lạnh uống đều có hiệu quả).

Dâm dương hoắc.

Dâm dương hoắc.

Rượu dâm dương hoắc nhục thung dung: dâm dương hoắc 100g, nhục dung 50g, rượu trắng 1.000ml. Hai thứ thái vụn rồi đem ngâm với rượu, sau chừng 7 - 10 ngày là có thể dùng được. Ngày 2 lần, mỗi lần từ 10 - 20ml, trước khi sinh hoạt uống 20ml. Công dụng bổ thận tráng dương, cường gân kiện cốt, khu phong trừ thấp, dùng cho người bị suy giảm khả năng tình dục, di tinh, liệt dương, muộn con, đau lưng, viêm khớp...

Nhục thung dung.

Nhục thung dung.

Kinh nghiệm dùng rượu dâm dương hoắc hay còn gọi là rượu tiên linh tỳ để bổ dương cường tinh đã được lưu truyền từ lâu trong dân gian. Loại rượu này cũng đã được ghi trong y thư cổ Thọ thế bảo nguyên và Nhật hoa tử bản thảo. Theo dược học cổ truyền, cả hai vị dâm dương hoắc và nhục dung đều có tác dụng bổ thận tráng dương. Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, ngoài công năng cải thiện hệ thống miễn dịch, có lợi cho tim mạch và chống lão hóa, cả hai vị này đều có khả năng thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát dục và nâng cao năng lực hoạt động của tuyến sinh dục.

ThS. Hoàng Khánh Toàn

Cải thảo giúp giảm cholesterol

Cải thảo vị ngọt tính mát, công hiệu thanh nhiệt trừ phiền, thông lợi đường ruột, tiêu thực dưỡng vị; dùng hỗ trợ trong điều trị các chứng phế nhiệt, ho khan, họng khô, miệng khát, đau đầu, đại tiện táo kết, viêm quầng, trĩ ra máu...

Tác dụng thực dưỡng

Lợi trường thông tiện, trợ giúp tiêu hóa: trong cải thảo chứa nhiều chất xơ, thúc đẩy nhu động đường ruột, trợ giúp tiêu hóa, dự phòng ruột già khô táo, thúc đẩy bài tiện, phóng thích độc tố trong đường ruột, vừa giúp điều trị táo bón vừa trợ giúp hấp thu dinh dưỡng.

Tiêu thực kiện tỳ, bổ sung dinh dưỡng: cải thảo vị ngọt tươi ngon, khai vị kiện tỳ, có chứa protid, lipid, nhiều vitamin và chất khoáng như: Ca, P, Fe…, thường ăn giúp tăng chức năng miễn dịch cơ thể, cũng có ý nghĩa với việc giảm béo phì. Khám phá cho thấy, một chén cải thảo nấu chín có thể cung cấp lượng canxi tương đương với một tách sữa.

Cải thảo giúp giảm cholesterol

Dự phòng bệnh tim mạch: thành phần hữu dụng trong cải giúp giảm cholesterol, tăng tính đàn hồi mạch máu, thường ăn giúp dự phòng xơ cứng động mạch và các bệnh tim mạch khác.

Món ăn từ cải thảo

Cải thảo tiềm: tim cải thảo 1 quả (khoảng 0,5kg), thịt (heo) lát 50g, hành đoạn vừa đủ, gừng lát vừa đủ. Tim cải thảo rửa sạch, để ráo nước, cắt thành hai đoạn, cho vào thau sành, thêm hành đoạn, gừng lát, thịt lát, rượu, nước dùng, cho vào lò hấp khoảng 1 giờ, khi cải nhừ, nêm muối, bột nêm, bột tiêu trắng, mỡ gà thì hoàn tất. Món có công hiệu dưỡng vị thông lạc, lợi thủy. Thích hợp dùng cho các chứng như tiểu tiện không thông, đại tiện táo kết, chán ăn…

Một chén cải thảo nấu chín hầu như có thể cung cấp lượng canxi tương đương với một tách sữa

Cải thảo xào cay: cải thảo 0,5kg, ớt đỏ 10g, bột năng vừa đủ. Cải thảo rửa sạch, thái lát dài 3cm, rộng 1,5cm; ớt bổ ra, bỏ hột, thái sợi dài 3cm; đổ dầu vào chảo cho nóng, xào ớt thơm cay, thêm gừng nhuyễn, cải thảo, lửa mạnh đảo thật nhanh, thêm dấm, nước tương, muối, đường, dùng bột năng làm xốt, rắc lên dầu mè, sau khi xào lại thì hoàn tất, múc lên đĩa. Món cải công hiệu dưỡng vị, thích hợp dùng cho các chứng như tỳ vị suy nhược, chán ăn…

Cải thảo nấm hương: cải thảo xé nhỏ, nấm hương ngâm mềm thái lát nhỏ. Đổ dầu vào chảo, gừng nhuyễn phi thơm, cho vào nấm hương, cải thảo xào trộn, thêm thịt tôm vừa đủ, thêm 1 chén nước nấu cải chín nhừ, nêm muối, khi múc lên đĩa thêm ít rau thơm. Rau là món ngon thường ngày, có tác dụng dự phòng cảm mạo, cải thiện hôi miệng, giảm huyết áp, giải nhiệt tẩy ruột.

Gỏi cải thảo: tim cải thảo rửa sạch thái lát nhỏ, đặt trong thau. Mù tạt hòa với nước nóng, thêm đường trắng, dấm, rượu, muối, bột nêm, rưới lên cải thảo, rồi rưới dầu mè thì hoàn tất. Món rau thông lợi đường ruột, tiêu thực dưỡng vị, giúp cải thiện chán ăn, đại tiểu tiện không thông thoáng.

Canh cải thảo - đậu hũ ky - táo đỏ: cải thảo 200g, đậu hũ ky 2 tấm lớn, táo đỏ 10 quả, tất cả cho vào nồi thêm nước nấu canh, nêm muối, dầu ăn. Thích hợp dùng cho các chứng như: ho khan do viêm phế quản, ho phế táo mùa thu đông, vị nhiệt ruột táo, đại tiện táo kết…

Canh cải thảo nấu thịt: tim cải thảo, chà là cho vào nồi nước, sau khi nấu sôi bằng lửa mạnh, chuyển lửa nhỏ nấu khoảng 1 giờ. Thêm cải thảo (phần lá) nấu 10 phút, sau đó cho vào thịt lát, lại nấu sôi, nêm gia vị thì hoàn tất. Có thể dùng hỗ trợ điều trị ho khan do nhiệt, môi miệng lở loét mùa hanh thu đông.

Cải thảo tính hơi hàn, người đau bụng, đại tiện lỏng, lỵ… do lạnh thì không nên ăn nhiều.

Phòng chống ung thư: phụ nữ hàng ngày ăn 0,5kg cải thảo, có thể làm giảm tỉ suất phát sinh ung thư tuyến vú. Ngoài ra, trong cải chứa nguyên tố vi lượng Mo (Molybdenum) giúp cơ thể ức chế sự tạo thành, hấp thu và tích tụ với Nitrosamin, nên có tác dụng chống ung thư rất tốt.

Cải thảo giúp giảm cholesterol

LY.DS. BÀNG CẨM

Tía tô

Lá tía tô (Folium Perillae) vị cay, tính ôn; vào kinh phế, tỳ. Có tác dụng tán hàn giải biểu, hành khí, an thai, giải độc cá cua. Hạt tía tô gọi là tô tử (Semen Perillae) vị cay, tính ôn; vào kinh phế; có tác dụng hạ khí, trừ đờm, giảm ho. Cành tía tô gọi là tô ngạnh (Caulis Perillae), có tác dụng lý khí. Liều dùng: 6-12g. Sau đây là một số bài thuốc có tía tô.

Hành khí, an thai:

Bài 1: tô diệp 4g, hoàng liên 2,5g. Hãm uống. Trị phụ nữ có thai hồi hộp không yên.

Bài 2: tô diệp 15g, ô mai 10g, gừng tươi 10g, trúc nhự 10g, gạo tẻ 60g. Dược liệu nấu lấy nước, gạo nấu cháo, cháo chín cho nước thuốc vào khuấy đều, đun sôi. Ngày 1 lần, đợt dùng 5-7 ngày. Dùng cho phụ nữ có thai đầy tức bụng, nôn ói, đau đầu chóng mặt, đắng miệng, nhạt miệng, khát nước, đe dọa sẩy thai.

Tán hàn, giải biểu: Trị cảm mạo phong hàn, đau đầu do hàn, do nhiệt, vùng ngực đầy trướng.

Bài 1: tía tô 8g, hương phụ 8g, trần bì 6g, cam thảo 4g. Sắc uống.

Bài 2: tía tô 80g, cà gai leo 80g, hương phụ 80g, trần bì 40g, tán bột, ngày uống 20g.

Bài 3: tía tô 15g, kinh giới 10g, hương nhu 10g, vỏ quýt 10g, gừng tươi 3 lát. Nếu nhức đầu thêm mạn kinh tử 12g, bạch chỉ 8g. Sắc uống.

Bài 4: gừng tươi, kinh giới, tử tô diệp, trà; số lượng thích hợp cùng đem sắc lấy nước, thêm đường đỏ khuấy đều, uống.

Tía tô - Thuốc an thai, chữa ho

Trừ đờm, dịu ho:

Bài 1: tô diệp 8g, sinh khương 8g, hạnh nhân 12g, pháp bán hạ 12g. Sắc uống. Trị ngoại cảm phong hàn, ho có đờm.

Bài 2: tô tử 10g, bạch giới tử 10g. Tán bột. Uống với nước sắc lá táo chua và dây tơ hồng. Chữa ho, trừ đờm.

Bài 3: tô tử 10g, bạch giới tử 10g, lai phục tử 10g. Sao vàng, tán nhỏ, cho vào túi, sắc lấy 200ml. Chia uống 3 lần trong ngày. Trị ho hen có đờm, tức ngực.

Bài 4: tô diệp 6g, mận tươi 30g (hoặc mận ướp đường), đại táo 5 quả, chè 3g. Mận chín tươi hoặc mứt mận và đại táo nấu lấy nước, khi nước đang sôi, đổ vào ấm có chè và tô diệp, hãm tiếp. Uống 2 lần trong ngày. Liên tục 5-10 ngày. Trị ho, mất tiếng, tắc nghẹn do rối loạn thần kinh chức năng, hysteria.

Lý khí kiện tỳ:

Bài 1: tía tô 8g, đương quy 12g, xuyên khung 8g, bạch thược 12g, đảng sâm 12g, trần bì 12g, đại phúc bì 8g, cam thảo 4g, sinh khương 8g. Sắc uống. Trị đau trướng ngực, bụng, lưng, sườn đau.

Bài 2: tía tô 12g, rau sam 20g, cỏ sữa 16g, cam thảo đất 12g, cỏ mần trầu 12g, kinh giới 12g. Làm thành dạng thuốc bột hay thuốc hoàn. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 10-12g. Chữa đau bụng, lỵ, tiêu chảy.

Bài 3: tía tô, vỏ quýt, vỏ vối, vỏ rụt, thanh bì, sa nhân, thần khúc, mạch nha mỗi vị 2g. Nghiền bột mịn, dùng mật làm hoàn. Mỗi lần uống 4g. Trị trẻ em bị tiêu chảy.

Kiện vị, cầm nôn:

Bài 1: tía tô 8g, ngũ vị 4g, tang bạch bì 12g, phục linh 12g, chích thảo 4g, thảo quả 4g, đại phúc bì 12g, cát cánh 12g, sinh khương 12g. Sắc lấy nước, thêm ít muối mà uống. Trị các chứng tâm hạ trướng đầy, nôn oẹ, không ăn được mà thiên về hàn.

Bài 2: lá tía tô 30g, gừng tươi 15g. Sắc hãm 15 phút, gạn nước thêm đường uống. Dùng cho các trường hợp ngoại cảm phong hàn nôn ói đau bụng.

Giải độc cua cá:

Bài 1: tô diệp tươi hoặc dạng khô 15g sắc hãm nước cho uống. Dùng cho các trường hợp ngộ độc do ăn cua luộc, nem cua, canh cua.

Bài 2: lá tía tô 10g, sinh khương 8g, sinh cam thảo 4g. sắc với 600ml nước còn 200ml, chia uống 3 lần, uống nóng. Nếu thêm kinh giới 10g, chữa dị ứng, mẩn ngứa, mề đay.

Phòng, chữa sốt xuất huyết: tía tô 15g, rau má 30g, cỏ nhọ nồi 30g, bông mã đề 20g. Sắc uống.

Kiêng kỵ: Người biểu hư, tự ra mồ hôi cấm dùng.

TS. Nguyễn Đức Quang

Thuốc nam trị viêm da

Viêm da là một triệu chứng thường gặp, theo Đông y nguyên nhân có thể do ăn uống không điều độ gây thấp nhiệt nội uẩn ứ đọng trong cơ thể, hoặc do phong nhiệt táo tà xâm nhập mà gây nên.

Nếu trên da xuất hiện những mảng ban nhỏ, sần lên, hơi ngứa, viêm loét, thẩm dịch có mùi hôi, vẩy nhờn, đóng vẩy màu vàng.Dùng bài: nhân trần 15g, đại hoàng 3g, chi tử 12g, bồ công anh 12g, kim ngân hoa 12g, dã cúc hoa 10g, thuyền thoái 6g, bạc hà 6g, lạc tiên bì 10g, khổ sâm 6g. Sắc uống ngày một thang. Uống liên tục trong 7 ngày là một liệu trình. Bài thuốc có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hóa thấp, trừ phong. Mỗi thang thuốc sắc 2 lần hợp 2 nước với nhau, chia ra uống nhiều lần trong ngày.

Thuốc nam trị viêm da

Hình ảnh cấu tạo da.

Nếu trên da bị tổn thương dầy cộm, vảy dễ bong, bay tứ tung, ngứa dai dẳng. Dùng bài: đương quy 15g, xuyên khung 6g, bạch thược 12g, sinh địa 15g, phòng phong 10g, bạch tật lê 15g, hà thủ ô 12g, cam thảo 6g, khổ sâm 6g, thương truật 10g, đan bì 10g, xích thược 10g. Sắc uống ngày một thang. Uống liên tục trong 2 tuần là một liệu trình. Phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt ngừng uống. Bài thuốc có tác dụng dưỡng huyết, trừ phong nhuận táo. Mỗi thang thuốc sắc 3 lần, hợp 3 nước lại với nhau, chia đều, uống trong ngày trước bữa ăn.

Nếu trên mảng bám trên da ửng đỏ, lở loét, dính nhớt, ngứa, tiểu tiện vàng, đại tiện táo kết: Dùng bài: hoàng liên 5g, hoàng cầm 20g, liên kiều 15g, bồ công anh 15g, tri mẫu 15g, đơn bì 15g, sinh địa 15g, đương quy 20g, thăng ma 10g, bạch chỉ 15g, thạch cao 30g, cam thảo 20g. Sắc uống ngày một thang. Chia thành 3 lần uống trong ngày. Bài thuốc có tác dụng thanh nhiệt, tả hỏa, lương huyết giải độc chủ trị viêm da bã nhờn. Uống liên tục trong 1 tuần là một liệu trình.

Chú ý: Các bài thuốc trên tùy từng trường hợp có thể sử dụng 3 liệu trình liên tục. Hết 1 liệu trình nghỉ 3 ngày lại uống tiếp một liệu trình mới. Trong thời gian uống thuốc cần ăn uống thanh đạm, không ăn nhiều các thứ cay, nóng, kiêng tanh và các chất ngọt. Ngoài ra bạn có thể dùng bài thuốc sau: khổ sâm 15g, hoàng bá 9g, hàn the 15g đun sôi, để nguội, dùng rửa ngoài da để tăng cường hiệu quả điều trị.

BS. Phạm Thị Hương

Vị thuốc lợi niệu tiêu phù từ hạt mã đề

Hạt mã đề – tên thuốc gọi là xa tiền tử, là hạt của cây mã đề, thuộc loài cỏ sống lâu năm, có ở khắp nơi trên đất nước ta từ đồng bằng đến trung du, miền núi. Xa tiền tử thu hoạch vào khoảng tháng 7 - 8 khi quả chín già, đem nhổ cây về phơi khô và thu lấy hạt. Về thành phần hóa học, hạt mã đề chứa nhiều chất nhày, các acid succumic, adenine và cholin.

Theo Đông y, xa tiền tử vị ngọt, tính hàn, không có độc quy kinh can, thận, bàng quang, phế. Có tác dụng lợi niệu thanh nhiệt, chữa các chứng tả, lỵ. Thuốc có công năng làm mạnh phần âm, ích tinh khí, mát gan, sáng mắt. Xa tiền tử là vị thuốc khá thông dụng được sử dụng phổ biến trong nhân dân ta. Chủ trị các chứng thấp nhiệt gây đái buốt, đái rắt, thủy thũng, phù nề, vàng da. Chữa ho, thông đờm trong viêm phế quản, các bệnh tả lỵ, bệnh đau mắt đỏ, nhức mắt, nước mắt chảy nhiều.

Cây mã đề.

Cây mã đề.

Xin giới thiệu một số bài thuốc lợi niệu tiêu phù có hạt mã đề.

Bài 1: Chữa chứng thấp nhiệt tiểu tiện khó, đái buốt, đái rắt, nước tiểu ít, màu đỏ hoặc đục, dùng xa tiền tử độc vị tán bột ngày uống 8 - 10g chia 2 lần. Trường hợp nặng hơn phải thanh nhiệt lợi thấp dùng hoàng bá 12g, hoàng liên 8g, bồ công anh 12g, tỳ giải 12g, mộc thông 10g, xa tiền tử 12g. Sắc uống ngày một thang.

Bài 2: Trường hợp thấp nhiệt nặng thậm chí không đái được, bụng đầy trướng, miệng khô, họng ráo, rêu lưỡi vàng cáu, mạch hoạt sác, dùng bài Bát chính tán gồm xa tiền tử, cù mạch, hoạt thạch, chi tử, mộc thông, biển súc, cam thảo, đại hoàng lượng bằng nhau, tán thành bột kép, ngày uống 3 lần, mỗi lần 10 – 15g chiêu với nước đăng tâm thảo. Sắc uống ngày một thang.

Bài 3: Nếu thấp nhiệt thịnh, ứ nghẽn nhiều phải thanh nhiệt, giải độc, hóa ứ, trừ thấp dùng đại hoàng 6g, bạch truật 6g, mẫu lệ 10g, xa tiền tử 16g, hồng hoa 6g, khiếm thực 10g, ngư tinh thảo 10g. Sắc uống ngày một thang.

Bài 4: Trường hợp tiểu tiện khó khăn, mặt phù, chân thũng, bụng trướng, kém ăn tiểu tiện vàng, rêu lưỡi nhớt, là khí hóa mất chức năng, dương uất, thủy ứ phải hóa khí kiện tỳ, lợi thấp dùng xa tiền tử 12g, phục linh 12g, trư linh 12g, trạch tả 12g, bạch truật 12g, bạch mao căn 12g, trần bì 12g, trần bì 12g, quế chi 6g, tỳ giải 15g.

Bài 5: Nếu tiểu tiện khó khăn do tiền liệt tuyến phì đại, cuối bãi nhỏ giọt không hết, thiên về ứ kết phải hành khí, phá ứ, điều dương, thông lợi dùng xa tiền tử 24g, tạo giác thích 15g, dâm dương hoắc 15g, xuyên sơn giáp 15g, chỉ thực 15g, tiên mao 15g, hồng hoa 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2 – 3 lần.

Bài 6: Chữa chứng phù thũng, tiểu tiện không lợi dùng hạt mã đề 15g, phục linh bì 9g, trạch tả 9g. Sắc uống ngày một thang.

Bài 7: Trường hợp phù thũng toàn thân tiểu tiện không lợi do phong hàn nhiệt thấp độc bị ứ dẫn đến công năng của 3 tạng tỳ, phế, thận mất điều hòa lại kiêm khái thấu, thở gấp phải tán hàn, tuyên phế, lợi thủy, tiêu thũng dùng xa tiền tử 12g, ma hoàng 6g, tô diệp 9g, trần bì 9g, trư linh 9g, bán hạ 6g, hạnh nhân 9g, phục linh 9g, phòng phong 9g, đan bì 9g.

Bài 8: Nếu phù thũng tiểu tiện ít, vàng, sẻn, khó khăn dùng xa tiền tử 12g, mộc thông 5g, phục linh 12g, mẫu đơn bì 12g, đại phúc bì 9g, trần bì 9g, phòng phong 9g, ma hoàng 6g, tô diệp 9g, phòng kỷ 9g, trích tang bạch bì 9g. Sắc uống ngày một thang.

Bài 9: Trường hợp phù thũng lúc phát lúc không, xu hướng không nặng, lưng gối yếu ớt, miệng khô, họng ráo, sốt nhẹ, mỏi mệt kèm theo tâm phiền, tai ù, chóng mặt, lưỡi đỏ, mồ hôi trộm phải tư can dưỡng thận, đạm thấm lợi thủy dùng xa tiền tử 25g, trạch tả 20g, bạch phục linh 25g, địa phu tử 25g, mẫu đơn bì 20g, sơn thù du 15g, tang thầm 25g, câu kỷ tử 20g, nữ trinh tử 20g, hoài sơn 20g, can địa hoàng 25g. Sắc uống ngày một thang.

DSCKI.Phạm Hinh

Thuốc từ quả vải

Vải còn có tên là lệ chi, đan lệ... Cả vỏ thân, rễ và hoa đều là những vị thuốc quý trong Đông y.

Thành phần hóa học: Cùi vải chứa đường, acid ascorbic, acid citric, protein, caroten, acid nicotic riboflavin, calci, sắt phốtpho. Vỏ quả chứa cyanidin glycosid, chất anthoxanthin màu vàng. Hạt vải có tanin, saponoid, dẫn chất glycin và flavonoid (quercetin, quercitrin). Theo Đông y, lệ chi nhục tính cam toan ôn; vào tỳ, vị, can. Tác dụng sinh tân dưỡng huyết, lý khí chỉ thống. Dùng cho các trường hợp sốt nóng, mất nước, khát nước (phiền khát), nôn ói, đau bụng, đau răng, lao hạch, sưng hạch, viêm tấy khoang bàn ngón tay (đinh nhọt), sang chấn đụng giập xuất huyết. Lệ chi hạch tính vị cam sáp ôn, tác dụng ôn trung lý khí chỉ thống. Dùng cho các trường hợp thoát vị, đau do viêm loét dạ dày, thống kinh...

Một số các dùng vải chữa bệnh:

Chữa đau dạ dày: hạt vải 3g, mộc hương 2g. Nghiền thành bột. Uống với nước canh. Ngày dùng 3 lần.

Chữa đau bụng khi hành kinh hoặc sau khi đẻ: hạt vải đốt tồn tính 20g, hương phụ 40g. Tán bột. Ngày dùng 2 - 3 lần, mỗi lần 8g, chiêu bằng nước muối nhạt hay nước cơm.

Chữa tinh hoàn sưng đau: hạt vải đốt tồn tính. Ngày uống 4 - 6g, uống với rượu.

Chữa tiêu chảy do tỳ hư: quả vải 7 quả, đại táo 5 quả. Sắc uống.

Chữa nấc: quả vải 7 quả, gừng tươi 6g, đường đỏ vừa đủ. Sắc nước uống.

- Hoa vải có nhiều mật ngọt nên mật ong và phấn hoa vải thơm ngọt, nhiều chất dinh dưỡng; là thuốc chữa loét dạ dày và ruột, an thần, chữa ho khan, viêm họng, nhức đầu và một số bệnh thần kinh khác.

- Vỏ thân, rễ và hoa sắc lấy nước, dùng súc miệng chữa viêm họng, đau răng.

Một số món ăn - bài thuốc có vải:

Chân giò vải chín xào om: cùi vải chín 100g, thịt nạc chân giò 300g, trứng gà 2 quả. Thịt chân giò cắt lát làm đôi, dùng sống dao chần cho mềm, mỗi lát lại cắt thành 12 miếng. Trứng bỏ lòng đỏ, lấy lòng trắng. Đặt chảo trên bếp nóng, cho dầu rán vào, khi dầu sôi cho thịt heo vào rán cho chín vàng, gạn bỏ hết dầu còn trong chảo, cho giấm, đường, muối, chút rượu, nước bột gạo và cùi vải vào xào nhỏ lửa, thêm ít dầu rán chín và đổ ra đĩa. Dùng cho người cao tuổi, sản phụ sau đẻ, sau thời kỳ nằm bệnh dài ngày.

Cháo cùi vải: cùi vải chín 5 - 7 cái, gạo tẻ 40g. Đem nấu cháo. Dùng cho trường hợp nóng sốt, môi họng khô, khát nước (phiền khát).

Cháo củ mài, hạt sen, cùi vải: vải khô 12g, gạo tẻ 60g, củ mài 15g, hạt sen 12g. Nấu cháo cho người cao tuổi thường bị tiêu chảy buổi sớm (ngũ canh tả).

Vải tươi dùng ngay: vải chín tươi 5 - 10 quả, ngày ăn 2 - 3 lần. Dùng cho các trường hợp nôn khan, nấc cụt, nóng sốt khát nước, cơ thể suy nhược sau bị bệnh lâu ngày.

Kiêng kỵ: Người âm hư hoả vượng nên hạn chế dùng.

TS. Nguyễn Đức Quang

Đinh hương trị viêm loét dạ dày, tá tràng

Đinh hương chứa các tinh dầu: eugenol, acetyleugenol, eugenyl acetat…; các sequiterpenoids, hợp chất chromones: eugenin, eugenitin và eugenon...

Theo Đông y, đinh hương vị cay, tính ôn; vào các kinh: phế, tỳ, vị và thận; có tác dụng trợ tiêu hóa, sát trùng, kháng khuẩn; ôn trung giáng nghịch, ôn thận trợ dương. Trị nấc, nôn thổ, nôn ra thức ăn, thoát vị, đau quặn bụng do lạnh… Liều dùng, cách dùng: 2-6g bằng cách nấu, pha hãm, ngâm.

Đinh hương trị viêm loét dạ dày, tá tràngCây đinh hương

Đinh hương được dùng làm thuốc trong các trường hợp:

Trị nôn do lạnh:

Bài 1: đinh hương 4g, tai hồng 12g, đảng sâm 12g, gừng sống 12g. Sắc uống. Trị các chứng nôn do dạ dày hàn, ợ ngược.

Bài 2: đinh hương 4g, sa nhân 6g, bạch truật 12g. Các vị tán bột. Mỗi lần uống 2-4g, ngày 2-3 lần, uống với nước. Trị tỳ vị hư hàn, thổ tả, kém ăn.

Trị đau bụng do lạnh.

Bài 1: diên hồ sách 12g, ngũ linh chi 8g, đương quy 12g, quất hồng 8g, đinh hương 6g. Tất cả nghiền bột. Mỗi lần dùng 4-8g, dùng 2-3 lần/ngày, uống với nước. Trị đau loét dạ dày hành tá tràng.

Lưu ý: người có xuất huyết không dùng.

Bài 2: đinh hương 63g, long cốt 1.000g, mẫu lệ 1.000g, hoạt thạch 250g. Tất cả nghiền bột mịn, chia thành gói 8g. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 4g với nước. Trị loét dạ dày hành tá tràng tăng axit.

Món ăn có đinh hương:

Vịt tiềm đinh hương: vịt 1 con, đinh hương 5g, nhục quế 5g, thảo khấu 5g. Vịt làm sạch; dược liệu nấu riêng trong 20 phút, lọc lấy 3 lít nước cho vịt, hành tươi, gừng tươi hầm vịt chín nhừ và cạn nước. Cho nước hàng, muối, gia vị, đường phèn cho ngấm đều lên vịt, đun nhỏ lửa, đảo đều, cho ít dầu vừng láng đều, thái miếng ăn. Dùng cho người tỳ vị hư nhược, đau bụng đầy bụng, nôn ra thức ăn do lạnh, kinh nguyệt không đều, đau nhức cơ xương khớp, viêm khí phế quản, phù nề.

Nhục quế đinh hương tán: đinh hương 15g, nhục quế 30g tán mịn, chia làm 10 lần, uống với nước nóng pha chút rượu trước bữa ăn. Dùng cho người đau bụng âm ỉ do hàn thấp, tỳ vị hư hàn.

Chè gừng tươi đinh hương: gạo nấu thành hồ, thêm bột đinh hương 5g, gừng tươi đập dập 30g, đường trắng 250g, ít dầu vừng hoặc dầu lạc khuấy đều, đổ ra khay để nguội đông thái lát, ăn vài lần trong ngày. Thích hợp cho người bị nấc, nôn, đau quặn bụng.

Nước dấm nóng đinh hương: nụ đinh hương 2 cái, dấm ăn 50ml, cho vào bát, đun cách thủy 10 phút, uống nóng. Dùng cho người đau quặn bụng do lạnh.

Kiêng kỵ: Người bị nôn mửa do nhiệt và đang viêm sốt kiêng dùng. Đinh hương kỵ uất kim.

TS. Nguyễn Đức Quang

Diếp cá thanh nhiệt giải độc

Diếp cá còn gọi là giấp, ngư tinh thảo. Mọc hoang hay trồng ở nơi ẩm ướt. Là một trong các loại rau thơm gia vị chủ yếu quen dùng ở miền Nam...